Thượng Đế, Lão Đam và Nhà lập trình

Tác giả: Ngô sĩ Thuyết

Tôi không phải là nhà Nho, không phải là Triết gia hay học giả này nọ, học hàm học vị cũng chẳng cần chi, tôi chỉ là một kỹ sư tin học “ngộ Đạo” nhờ có Internet và công nghệ thông tin, tôi yêu thích Minh triết và Văn hoá phương Đông đặc biệt là Đạo Đức kinh của Lão Tử. Tôi rất quan tâm theo dõi và đọc những bài viết trên chungta.com, cũng comments khi cần chia sẻ và rất ít viết bài một cách nghiêm túc. Không hẳn “cứu (giúp) một người phúc đẳng hà sa” là lý do thôi thúc tôi viết bài này, có lẽ đôi lúc cũng cần phải cọ xát “cái biết” của mình.

Người Trung Quốc phê phán Nho giáo

Chúng ta còn nhớ tháng 8/2010, Tuần Việt Nam (VNN) và một loạt báo mạng khác có đăng bài phỏng vấn Lưu Á Châu (LAC), Trung tướng, Chính uỷ Trường Đại học Quốc phòng Trung quốc, từng là giáo sư thỉnh giảng của ĐH Stanford Mỹ. Xin được trích đoạn phỏng vấn Lưu Á Châu – Người phê phán văn hoá Trung Hoa:

“Trong quá khứ, tôi (LAC) trước tiên là người kế thừa văn hoá Trung Hoa, sau đó mới là người phê phán văn hoá Trung Hoa. Hiện nay tôi trước tiên là người phê phán văn hoá Trung Hoa sau đó mới là người kế thừa.

Lịch sử phương Tây là một bộ sử sửa cái xấu, cái sai thành cái tốt, cái đúng. Lịch sử Trung Quốc thì là một bộ sử sửa cái tốt cái đúng thành cái xấu cái sai. Thời cổ, phương Tây cái gì cũng cấm, chỉ có điều không cấm bản năng con người. Trung Quốc cái gì cũng không cấm, riêng bản năng thì cấm.

Người phương Tây dám thể hiện bản thân, tức thể hiện tư tưởng mình và còn dám phô bầy thân xác loã lồ của mình. Trung Quốc chỉ biết mặc quần áo, mặc quần áo cho tư tưởng. Mặc bao giờ cũng dễ hơn cởi (!). Phương Tây đả kích mặt đen tối của mình, cho nên tìm được ánh sáng, tư tưởng của họ đang bay bổng. Chúng ta ca ngợi sự sáng sủa của mình, kết quả đem lại bóng tối nghìn năm.

Trung Quốc không có nhà tư tưởng, chỉ có nhà mưu lược. Hegel từng nói: “Trung Quốc không có triết học”. Tôi cho rằng mấy nghìn năm nay Trung Quốc chưa sản sinh được nhà tư tưởng nào. Nhà tư tưởng tôi nói là những người như Hegel, Socrates, Plato, những nhà tư tưởng ấy có cống hiến to lớn đối với tiến trình văn minh nhân loại. Lão Đam (tức Lão Tử), bạn nói ông ấy là nhà tư tưởng phải không?

Chỉ dựa vào “Đạo đức kinh” 5000 chữ mà có thể làm nhà tư tưởng ư? Đấy là chưa nói “Đạo đức kinh” của ông có vấn đề.

Khổng Tử có thể coi là nhà tư tưởng chăng? Thế hệ chúng ta xem xét ông thế nào? Tác phẩm của ông bị xem xét ra sao? Tác phẩm của ông chưa từng cung cấp cho nội tâm người Trung Quốc một hệ thống giá trị có thể đối kháng quyền lực thế tục. Cái mà ông cung cấp là tất cả xoay xung quanh quyền lực.

Nếu Nho học là một tôn giáo thì đó là một tôn giáo rởm; nếu là tín ngưỡng thì là tín ngưỡng rởm; nếu là triết học thì đó là triết học của xã hội quan trường hoá. Xét trên ý nghĩa này thì Nho học có tội với người Trung Quốc” (hết trích).

Xét về mặt phê phán hủ Nho có lẽ Tướng Lưu và ông Nguyễn Hoàng Đức (NHĐ) cùng chung quan điểm, thậm chí LAC còn phê phán mạnh mẽ, ác liệt, cay độc hơn NHĐ vì LAC đã nhiều lần hiên ngang đứng trước 3 quân và đi khắp Trung Quốc diễn thuyết, bày tỏ quan điểm của mình mà không hề e ngại, người ủng hộ ông rất nhiều song chắc chắn người phản đối ông cũng không ít trong một đất nước rộng lớn 1,4 tỷ dân với bề dày truyền thống văn hoá Khổng Nho. Tôi cho rằng LAC và nhiều học giả khác có thể đã có những lệch lạc, phiến diện, cực đoan đối với Nho giáo mặc dù, trong thực tế họ vẫn hành xử và chịu tác động ít nhiều theo tư tưởng Khổng Nho, phát biểu về Đạo Đức Kinh như LAC là hồ đồ, mù quáng, không hiểu gì về Đạo Đức Kinh và Lão Tử!

Thế giới của chúng ta hiện tại có cả Đông và Tây, có quá khứ, hiện tại và đang tiến tới tương lai, lịch sử loài người có thể xem là con đường tiến hoá nhọc nhằn, gian khó, là con đường mà con người tự khẳng định, tự vươn lên đấu tranh để tồn tại và phát triển. Các kinh nghiệm trong lịch sử đều hết sức có ý nghĩa và đều là những bài học đắt giá. Sự phát triển của nhân loại là sự đóng góp của chung của các dân tộc, văn minh nhân loại cũng được xây dựng bởi các nền văn minh của các dân tộc khắp nơi trên thế giới, tôi nghĩ rằng không thể phủ nhận bất cứ sự đóng góp của các dân tộc, các nền văn hoá khác nhau đã tạo nên bức tranh muôn màu của thế giới ngày nay.

Với người Việt, nếu chúng ta khách quan nhìn nhận những giá trị văn hoá Trung hoa không chỉ là của riêng người Trung quốc, mà phải xem đó là một phần của văn minh nhân loại, góp phần quan trọng vào sự phát triển chung của nhân loại, chúng ta mới có đủ tầm tri thức để cảm nhận được, thấy được những giá trị tinh hoa trong đó. Có ở đâu mà người dân không mong được sống trong một xã hội trật tự, sạch sẽ và an toàn? (như một số nước Bắc Âu ngày nay chẳng hạn), đó chính là xã hội mà Đức Khổng mong ước, kỳ vọng (vua ra vua, quan ra quan, thầy trò, vợ chồng, con cái, anh em bạn bè,…) người nào có chức phận của người đó.

Có Thượng Đế và Ngài là Nhà lập trình vĩ đại nhất

Tôi là dân CNTT, chuyên về lập trình phần mềm ứng dụng. Từ cuối những năm 90, tôi đã nhận thấy rằng, tin học là thứ rất quan trọng, mọi lĩnh vực đều có thể là đối tượng phục vụ của công nghệ thông tin. Nói cách khác, có thể tin học hoá mọi lĩnh vực trong xã hội, các phần mềm tin học đã và sẽ được dùng mọi nơi, mọi lúc, mọi lĩnh vực và ngày càng tinh vi hiện đại. Khoảng 10 năm gần đây, sau khi có thời gian nghiên cứu về triết học, văn hoá, tôn giáo, Minh Triết,… tôi lại thấy rằng ngoài những chương trình phần mềm (do con người lập trình, tạo ra) có trong những chiếc máy tính hay thiết bị điện tử thì “sự lập trình” (của thiên nhiên) dường như hiện hữu ở khắp nơi quanh ta trong mỗi hạt giống, cái cây, ngọn cỏ hay muôn loài động, thực vật.

Cuối năm 2010, tôi có đọc được bài giới thiệu về cuốn “The grand Design” (Cuộc đại thiết kế) của Stephen Hawking và Leonard Mlodinow và cuốn “Triết lý tôn giáo” của William S. Sahakan và Mabel Sahakan và tôi đã phải thốt lên rằng: “Thượng Đế tồn tại và Ngài là Nhà lập trình vĩ đại nhất, vũ trụ là công trình sáng tạo vĩ đại của Ngài, là đồ án được Ngài thiết kế và triển khai, giám sát một cách hoàn toàn tự động bằng Phần mềm “Chương trình Tạo hoá”.

Có được phát hiện này là do tôi nỗ lực đi tìm kiếm cái CHUNG NHẤT, cái BẢN CHẤT, cái TỰ TÍNH, cái BẢN THỂ, cái ĐẠO, cái CƠ TRỜI, cái THÁI CỰC,… mà ai cũng có thể cảm nhận được sự tồn tại trong lòng các sự vật, hiện tượng mà không thể mô tả hay gọi tên được “Đạo khả đạo, phi thường đạo; Danh khả danh, phi thường danh” (Đạo đức kinh).

Từ việc nhận thức thế giới sự vật hiện tượng qua lăng kính của dân IT tôi tin rằng chúng ta hoàn toàn có thể sử dụng hệ thống khái niệm và tri thức của khoa học máy tính và công nghệ thông tin để giải thích, diễn giải hầu hết mọi sự vật, hiện tượng xảy ra trong vũ trụ. Một điều thú vị là 20 năm trước, khi viết cuốn “A brief history of time” S.Hawking còn tin rằng có Thượng Đế nhưng khi viết “The grand Design” ông lại quả quyết rằng triết học đã chết và “Vũ trụ hình thành không cần đến Chúa”. Ở đây, tôi đã thấy được những mâu thuẫn và khiếm khuyết trong lập luận của S.Hawking trong cuốn “The grand Design”.

Tôi có Đức tin về Thượng Đế còn do lòng trắc ẩn và sự nhạy cảm của bản thân về sự lập trình phần mềm, về những điều chúng ta có thể học được ông Trời trong cách lưu trữ, quản lý, xử lý thông tin số liệu là những hoạt động bình thường, phổ biến trong nền kinh tế tri thức. Tôi có thể chứng minh, mô phỏng những điều mình nói bằng chính những thành quả khoa học kỹ thuật của nhân loại và sản phẩm phần mềm đặc biệt của chúng tôi, vì vậy tôi không sợ trở thành một kẻ “duy tâm, chủ quan”. Tôi sử dụng tri thức và những thành tựu của khoa học công nghệ để làm phương tiện và sở cứ cho luận thuyết của mình một cách nhất quán và tôi vô cùng hạnh phúc, lạc quan vì mình có thể hiểu được Lão tử và các vị thánh hiền phương Đông cũng như nhiều triết gia, hiền triết (bất tử) khác ở khắp nơi trên thế giới mà tôi may mắn được gặp trong kho tàng tri thức vô tận của nhân loại – mạng Internet!.

Việc “phát hiện” ra có Ông Trời, Thượng Đế không phải là điều gì mới mẻ, cái chính là phải chỉ cho mọi người thấy được Ngài đã và đang làm gì, con người đã học hỏi rất nhiều từ thiên nhiên, tư Tạo hoá nay muốn vươn lên một tầm cao mới sẽ phải tiếp tục học những gì nữa để giải quyết những vấn đề lớn, những bế tắc trước mắt và tương lai bằng chính sự nỗ lực sáng tạo của mỗi người và của cả nhân loại.

Đạo đức kinh rất cũ mà rất mới

Đạo đức kinh của Lão Tử chia làm hai phần: Thượng kinh gồm 37 chương, 2140 chữ, bắt đầu bằng chữ Đạo 道. Hạ kinh gồm 41 chương (từ chương 38 đến hết chương 81), 2815 chữ, bắt đầu bằng chữ Thượng đức 上 德. Vì thế nên gọi là Đạo đức kinh 道 德 經. Tổng cộng toàn kinh có 81 chương, 4999 chữ. Ai đó có thể nói Lão Tử đâu có thật, nhưng Đạo đức kinh vẫn hiển hiện là thật, trải qua hàng nghìn năm không ai sửa được một chữ. Quan lệnh Doãn Hỉ người trấn giữ Hàm Cốc quan đã bái thỉnh, cầu xin Lão Tử viết quyển Đạo Đức Kinh để lại cho đời.

Đạo đức kinh là một quyển sách nhỏ, nhưng nổi tiếng là khó hiểu xưa nay. Mỗi người bình giải một cách, Tây có, Tàu có, Việt có, không biết cơ man nào là người bình, mà bức màn bí mật nhiều khi vẫn còn nguyên vẹn (không trách, ngay vị tướng trí thức nổi tiếng như Lưu Á Châu mà còn không hiểu nổi!). Riêng Lão Tử thời cho rằng quyển Đạo đức kinh là một quyển sách dễ hiểu, mạch lạc có chủ trương đường lối, cấu trúc rõ ràng. Đạo đức kinh Chương 70 (TRI NAN) viết: “Ngô ngôn thậm dị tri, thậm dị hành; Thiên hạ mạc năng tri, mạc năng hành. Ngôn hữu tông, sự hữu huân. Phù duy vô tri, thị dĩ ngã bất tri; Tri ngã giả Hi, tắc ngã giả quý. Thị dĩ thánh nhân, bị hạt hoài ngọc”.

Dịch xuôi:

1. Lời ta rất dễ biết, rất dễ làm. Thiên hạ chẳng biết chẳng làm.

2. Lời ta có duyên do, việc ta có mấu chốt.

3. Thiên hạ không biết thế, nên không hiểu ta. Ít người hiểu ta, nên ta mới quý. Cho nên thánh nhân mặc áo vải mà chứa ngọc.

Nhân tử Nguyễn Văn Thọ dịch thơ:

“Lời ta dễ biết dễ làm,

Nhưng mà thiên hạ chẳng am chẳng tường.

Lời ta nói có chủ trương,

Việc ta vốn có lối đường chốt then.

Nhưng mà tục tử ngu hèn,

Hiểu ta chẳng nổi chuyện xem thường tình.

Hiểu ta mấy bậc tinh anh,

Ít người hiểu nổi nên danh càng lừng.

Xưa nay các bậc thánh nhân,

Ngọc tàng dưới lớp áo quần xác xơ”.

Hiểu Lão tử, tôi thấy rằng: Thứ mà Lão Tử gọi là “ĐẠO” chính là phần mềm Chương trình Tạo hoá, thứ mà “Vạn vật đồng nhất thể” chính là ngôn ngữ lập trình – ngôn ngữ viết lên Chương trình Tạo hoá. “Vô vi” trong Lão giáo phải được hiểu rằng Thượng Đế, Ông Trời không tuỳ tiện can thiệp một cách “thô bạo, bị động” vào Chương trình Tạo hoá, mọi sự can thiệp đều phải được hoạch định, tính trước bằng “Trí tuệ của Đấng Sáng tạo”. Điều này giải thích vì sao chúng sinh trách Trời nhiều ngang với việc cầu xin, ca tụng Ngài.

Đạo đức kinh chỉ chưa đầy 5000 chữ nhưng chứa đựng cả vũ trụ, thế giới quan, nhân sinh quan được nêu đầy đủ trong đó, với tôi, Đạo Đức kinh rất cũ mà rất mới, tôi hiểu được những điều tiền nhân dạy dỗ, nhắn nhủ cho hậu thế, những điều mà đến nay, sau gần 3000 năm tiến hoá nhọc nhằn mà vinh quang chúng ta đã có thể hiểu được những lời Thánh nhân dạy dỗ một cách trọn vẹn hơn với tư duy của dân … “lập trình”.

%d bloggers like this: