Cách nhìn nhận của quỷ Satan

Tác giả: Francois Ricard (1978)

Dưới những vẻ ngoài thật vô tội, tác phẩm của Milan Kundera là một trong những đòi hỏi bức thiết nhất đối với việc đọc của chúng ta hiện nay; tôi sử dụng từ này (đòi hỏi – ND) với nghĩa mạnh nhất của nó, để khẳng định một cách chắc chắn rằng tác phẩm này đặt ra một thách thức cực kì khó khăn trước tinh thần và tâm hồn người đọc, nhưng lại được đặt cho chúng ta theo cách không thể bỏ cuộc giữa chừng. Đọc tác phẩm, cảm nó một cách thực sự dẫn tới nguy cơ bị dẫn dắt đi quá xa, ngoài mức có thể ngờ tới, đến tận một dạng giới hạn của ý thức, đến tận cái “thế giới bị tàn phá” […] bởi quả thực ở đây việc đọc chính là một sự tàn phá.

Chính vì thế các nhà phê bình hẳn tin mình dùng đúng tên khi nói các tiểu thuyết của Kundera có tính chất “lật đổ”. Nhưng họ hiếm khi nói được ở điểm nào sự lật đổ này là hoàn toàn, mang tính quyết định và không thể bước lui được. Sở dĩ như vậy là bởi hai lẽ. Thứ nhất, tác phẩm của Kundera, khác với tác phẩm của “những người lật đổ” khác (Artaud, Bataille, Duvert…) không tự tuyên bố mình là lật đổ, không đưa ra lý thuyết cũng như tinh thần của chủ nghĩa đó và không bao giờ lớn tiếng ca ngợi nó. Chỉ đơn giản là có tính lật đổ trong tác phẩm đó, một cách dịu dàng, thậm chí có thể nói là nhàm chán, nhưng lại rất sâu sắc và không bao giờ giảm bớt cấp độ.

Nhìn từ bên ngoài, tiểu thuyết và truyện ngắn của Kundera khá “hiền lành”: hình thức thường xuyên mang dáng dấp truyền thống, với bối cảnh xác định, nhân vật lai lịch rõ ràng, tính thời gian và tình tiết “giống thật”, và nhất là một văn phong đơn giản, mang hơi hướng thế kỉ XVIII bởi sự kĩ càng và chính xác, rất khác với “những bùng nổ văn bản” (chỉ thuần tuý về văn bản) mà chúng ta đã quá quen trong chủ nghĩa kinh viện lãng mạn mươi hai mươi năm gần đây. Do đó về lý thuyết có thể đọc Chuyện đùa, Cuộc sống không ở đây, Điệu valse giã từ chỉ như những câu chuyện hay ho, được dẫn dắt khéo léo, đáng xem, hấp dẫn, gây cười, và không hơn. Nhưng chỉ có thể đọc cái kiểu “bề mặt” như thế nếu trong khi đọc ta không cảm thấy nếu bỏ qua “tính bề mặt” này ta sẽ tìm được ngay một câu chuyện đầy tức tối, hão huyền, bị làm giả. Người đọc không thể thoát ra khỏi sự thức nhận, tính bối rối đó. Rất nhanh chóng, sự vô tội của câu chuyện biến mất và phải bắt đầu đọc theo cách khác, đọc một cách thực sự, nghĩa là luôn nghi ngờ và luôn ở trong trạng thái không chắc chắn. Cái “ở dưới mắt” không còn là một câu chuyện đơn thuần, mà là hình thức vờ vịt của câu chuyện; các nhân vật không còn là những nhân vật nữa mà là bóng hình của những nhân vật; thành phố nước nóng không còn là một thành phố nước nóng mà là một kiểu bài trí bằng giấy bồi được soi sáng bằng một mặt trăng bằng giấy và có những gương mặt đi qua mặc giả trang không biết mình đang đóng trong vở kịch gì; và cuối cùng ngay cả tôi, người đọc, tôi cũng không còn là người đang đọc nữa, mà là một người dường như đang đọc, bởi sự nghi ngờ đã xâm nhập vào tận sâu trong bản nguyên của tôi và làm rối loạn tôi lên. Những mặt nạ không rơi xuống: chỉ đơn giản, chúng để cho biết chúng là mặt nạ, cái đó thậm chí có khi còn tồi tệ hơn, như Jaroslaw của Chuyện đùa đã thấy thế khi nhìn thấy không phải khuôn mặt của Vua mà là cái mạng che mặt của ông ta.

Thế mà sự lật đổ “tí hon” này lại có sức công phá mạnh hơn những lời tuyên ngôn khoa trương nhất. Kundera không phá huỷ thế giới với tiếng ồn ã: ông chỉ gỡ từng mảnh của nó, có hệ thống và không gây ra tiếng động, như một nhân viên phản gián. Ở phần kết câu chuyện, không có gì bị phá, không mảnh vỡ nào chạm được đến mặt đất, không thể nghe thấy sự bùng nổ nào, và các sự vật dường như không thay đổi gì hết: đúng hơn là chúng trở nên trống rỗng, bị làm giả, mỏng manh và bị một thứ phi thực tế mang tính quyết định tấn công. Nhưng sự tinh tế và nhẹ nhàng này, nếu quả thực nó làm tăng tính hiệu quả của sự lật đổ, đôi khi có thể trở nên không thể cảm nhận đối với người đọc qua quít, mặc dù anh ta không thể không bị lay chuyển một cách kín đáo khó nhận ra.

Nhưng còn mạnh hơn vẻ ngoài ngây thơ vô tội, cái đặc trưng cho tinh thần lật đổ ở Kundera là sự cực đoan của ông cho dù phần lớn người ta không hiểu nó. Tính phủ nhận ở ông, cái mà ông hướng người đọc tới, trong một phạm vi nào đó, là không thể cưỡng lại được.

Người ta có thể thấy, không chỉ trong Chuyện đùa, Cuộc sống không ở đây, Điệu valse giã từ, mà cả trong một số truyện ngắn của tập Những mối tình nực cười một bức tranh hoàn chỉnh và nắm bắt được – lại càng có tính hoàn bị vì được thể hiện dưới hình thức mà tôi gọi là anh hùng ca cá nhân – lịch sử chính trị Séc giữa những năm 30 và những năm tiếp ngay sau Mùa xuân Praha.

Nói cách khác, nếu tiểu thuyết của Kundera ở mức nào đó là tấm chân dung chân thực lịch sử chính trị hiện đại, thì đó là vì chúng chỉ xem xét cái lịch sử này, toàn bộ lịch sử, với tư cách tự thân của nó: một sự tưởng tượng vô thức, một vở bi hài kịch kì vĩ và nực cười, một quả bóng mà có lẽ chỉ văn chương mới biết cách thổi phồng lên.

Không đi xa đến tận chỗ xem các tiểu thuyết của Kundera như những tác phẩm có yếu tố tranh cãi chính trị – điều này có nghĩa là, nói cho đúng, thu hẹp chúng lại. Nhưng nhiều độc giả dường như coi một tiểu thuyết như Cuộc sống không ở đây chỉ là một phê bình thứ thơ ca “tồi tệ”. Đó chẳng qua là một phương cách dừng lại giữa đường, không đi theo dòng chảy tiểu thuyết đến kì cùng, có thể bởi vì tận cùng đó, như tôi đã nói, có cái gì đó có tính đòi hỏi quá cao, gần như không thể chịu đựng nổi. Bởi vì đối tượng của phê bình ở đây không phải là thơ ca “tồi tệ”, mà là toàn bộ – phải nói vậy – mọi thơ ca, mọi hình thức trữ tình bất kể là gì.

Nhưng người đọc không đi đến kết luận đó một cách dễ dàng, mà phải vượt qua những trở ngại vô cùng dai dẳng, bởi những điều ở tận sâu thẳm con người anh ta ngăn anh ta đi đến đó. Trong quãng thời gian ban đầu, tất cả đều diễn ra tốt đẹp và tiểu thuyết làm người ta cười thoải mái. Jaromil ngay lập tức cho tôi cảm giác về một kẻ lố bịch, tôi thấy trong cậu ta, trong cái cậu bé được cưng chiều rồi trong cậu thiếu niên mặt đầy tàn nhang, một gương mặt biếm hoạ của nhà thơ không hơn không kém; và tôi chỉ cảm thấy trong cậu sự dị hình đồi bại của thơ ca. Tôi cười cái cậu nhà thơ tự cho mình là thiên tài đó, tôi cười một cách nhẹ nhàng, bởi vì tôi có thể nói với tôi rằng Jaromil không phải là tôi, rằng tôi không phải là cậu ta, rằng cậu ta chẳng hề nắm được thơ ca “thực sự”, và do đó niềm tin của tôi là lành mạnh. Nhưng rất nhanh chóng, nếu tôi tiếp tục đọc (đọc một cách thực sự), nụ cười của tôi bắt đầu bị biến dạng, và Jaromil trở nên giống tôi một cách rất đáng nguy hiểm, nhất là ở lòng tin chân thành của cậu ta vào Rimbaud, Lermontov, Lautréamont, Maiakovski, Rilke, cả tôi cũng thế, như ai khác đó nói, tôi đã tập trung toàn bộ sự thích thú và do đó, không còn có thể cười theo cùng cách thức cũng như với sự thanh thản như trước được nữa. Anh hề, người nãy giờ còn ở trên sân khấu, trước mặt tôi, giờ đi xuống chỗ ghế ngồi, bên cạnh tôi, trong tôi, đến mức tôi không thể tự giữ mình ở xa Jaromil và nụ cười của tôi, nếu tôi muốn (hay có thể) tiếp tục cười, là để chống lại tôi, dần dần, nụ cười đó biến hình, giờ đây hướng vào chính tôi, vào thơ ca của chính tôi, về những cái gì trong tôi có vẻ là thi ca. Bức biếm hoạ đã trở thành tấm gương.

Tôi đành bám vào chỗ dựa cuối cùng: ít nhất, tôi tự nói với mình, thơ ca của Jaromil là vớ vẩn, và vì tự tin mình là nhà thơ, cậu ta nhầm lẫn “một cách khách quan”. Nhưng liệu có thật là như thế không? Rằng người ta đọc lại “một cách trung thực” (hay tách khỏi tiểu thuyết) những bài thơ của Jaromil. Liệu có đúng là thơ dở không? Lẽ nào tôi lại làm tôi nhầm, tự tôi đánh giá các vần thơ thấp đi để tự bảo vệ mình – và bảo vệ ý thức của tôi – chống lại cái mỉa mai mà chúng là đối tượng? Thực vậy, thơ của Jaromil có đầy đủ giá trị như thơ bất kì ai khác, tài năng của cậu ta là có thực – và nếu tôi từ chối tính xác thực này, nếu tôi không chịu công nhận thơ cậu ta có giá trị mà nó thực có, chẳng phải là để vô tội hoá và để giữ tôi nằm ngoài lòng tin của chính tôi vào tính xác thực và vào giá trị thơ ca? Chẳng phải để từ chối chấp nhận cái nhận định (khủng khiếp và tuy nhiên rất đơn giản) rằng thơ ca, mọi thơ ca, mọi tư tưởng thơ ca đều là gian trá? Hay đúng hơn, đây là một cái bẫy, và là một trong những cái bẫy ghê gớm nhất.

Chúng ta hãy chấp nhận điều này. Thật quả vô cùng khó khăn mới theo được cho đến chỗ đó (cho đến sự bê bối này) những ngả đường của cuốn tiểu thuyết; và trên đường đi có nhiều chỗ trốn mà tôi có thể rẽ sang, lánh mình đi. Nhưng nếu tôi làm vậy, nếu tôi tự cho phép mình trốn đi, thì sự “lật đổ” mà tôi đang bị dẫn tới lại càng là một trong những cái cực đoan nhất, vì nó buộc tôi phải đặt câu hỏi về chính cái mà tôi từng tin tưởng có thể giải phóng tôi khỏi vở hài kịch chính trị và câu chuyện đùa của thế giới, cái đã đặt ra tính phi thực của mọi cái còn lại, đã vứt bỏ mọi thứ mặt nạ và có vẻ sống với riêng bộ mặt trần trụi của thực tế. Vậy mà chính cái nền đó vỡ ra và tôi, một lần nữa, không thể thoát ra, bị vứt vào cái vòng tròn không điểm kết của những mặt nạ.

Như vậy, với Don Quichotte và Bà Bovary, Cuộc sống không ở đây có thể là tác phẩm gay gắt nhất chống lại thơ ca từng được viết ra. Thơ ca với danh nghĩa mảnh đất được ưu tiên của sự khẳng định, của cơn say và của tính “xác thực”. Thơ ca với danh nghĩa sự sửa chữa cuối cùng của Chúa. Dù cho người ta đọc cuốn tiểu thuyết này như một sự chỉ trích những vần thơ tồi; nếu người ta muốn thế thì đó là một phương cách tuyệt vời để tự bảo vệ chống lại cái trên thực tế là một công việc còn cực đoan hơn nhiều: sự phá hoại những thành trì cao nhất của sự vô tội.

Nhưng còn lại gì sau sự vô tội? Còn lại gì sau thơ ca? Không gì cả. Hay đúng hơn, cái sau đó không gì khác hơn cái trước đó. Sau thơ ca, cũng như trước thơ ca, là văn xuôi ở vị trí thống trị, nghĩa là: tính không chắc chắn, những gần đúng, cách biệt, trò chơi, nhại giọng, bất hoà hợp giữa tinh thần và thể xác như từ và vật, sự lừa lọc, nhầm lẫn, hay tóm gọn trong một từ: quỷ Satan, cặp bài trùng với Chúa, nhưng (như trong một tấm gương) một cặp bài trùng bị đảo ngược, mất giá, giả dối, khôi hài, phi lí, một cặp đôi thử tự đổi chỗ cho nhau và thường thành công trong việc đó, và không vì thế mà thôi không tỏ vẻ nhạo đời. Khi đó, chỉ còn lại một phương cách duy nhất cho tôi: tôi cũng phải nhạo đời như thế.

Đọc Kundera, nghĩa là chấp nhận và áp dụng cách nhìn của Satan đó, về chính trị và lịch sử, về thơ ca, về tình yêu, và nói chung, về mọi tri thức. Và chính qua đó mà tác phẩm này không chỉ là một sự lật đổ thuần tuý, mà còn là văn chương thuần tuý. Bởi nó không cung cấp tri thức nào hết, nếu không kể tính tương đối, hay tính kịch của mọi tri thức (ngay cả tính thơ, ngay cả chiêm bao); nó không khẳng định gì hết cả, trừ tính không đầy đủ và do đó không thích đáng của mọi khẳng định; nó không trưng bày gì ra hết cả, trừ vương quốc vĩnh cửu và nực cười của cái tình cờ và của nhầm lẫn; tóm lại, nó dẫn dắt tôi đến nhận thức đầu tiên của tôi, nhận thức không thuộc bất cứ một ý thức hệ hay khoa học nào, nghĩa là nhận thức về toàn bộ hiện thực thường bị nhầm với cái phi thực, nhận thức rằng trong mọi trật tự luôn tồn tại một sự vô trật tự còn sâu thẳm hơn, và chính bản thân tôi, tôi là người khác hơn là chính tôi, cái này, một cách chắc chắn, không đáng giá hơn một tiếng cười, nhưng đáng giá như thế một cách hoàn bị.

Tất cả những nhân vật chính của Kundera, dù ông đặt tên là Ludvik, Jaroslaw (Chuyện đùa), Jakub (Điệu valse giã từ), “người đàn ông tứ tuần” (Cuộc sống không ở đây), trợ lý (Không ai cười nổi), hay Edouard (Edouard và Chúa), tất cả chỉ sống, chiến đấu, chịu đựng, yêu và già đi để đi đến một cái kết luận không sao tránh khỏi là sống, chiến đấu, chịu đựng, yêu, thực ra chỉ là để tự coi mình là những người khác không phải họ, và nhất là xem thế giới như nó có thể là thế nhưng không phải là thế, nghĩa là cho sự sáng tạo ra Chúa. Trong tính giản đơn của nó, kết luận này là sự lật đổ cao nhất, cái chỗ người đọc bắt gặp sự phản kháng mạnh nhất, bởi chính sự phản kháng này khiến người đọc trở lại bản chất của mình: đao phủ trá hình thành nạn nhân, đối tượng miêu tả thành chủ thể, cái bóng cứ nghĩ mình có thiên chức là thực tế. Nhưng “chính đó là cái tự nhiên của những con người, Chvéik nói: người ta càng sống càng nhầm lẫn.”

Nhưng mà vẫn cứ phải sống…

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: